Tại sao nói thận cũng là một cơ quan

Như trên đã nói, cùng lúc hoàn thành chức năng bài tiết, thận còn sản sinh ra nhiều loại hoóc môn phát huy tác dụng nội tiết quan trọng, do vậy thận cũng là một cơ quan nội tiết. Cho tối nay, người

ta đã phát hiện ra thận có thể sản sinh và tiết xuất ra renin, men giải phóng kininogenase, chất thúc đẩy sản sinh hồng cầu, chất 1.25-hydroxy-chole

calciferon (1.25-(OH)2CC), tiền liệt tố, natriuretic- peptide (NP), chất ức chế renin, các loại mỡ tủy trung tính kháng cao huyết áp.

Dưới đây giới thiệu về sự sản sinh và tác dụng sinh lí của những hoóc môn quan trọng do thận tiết ra đã được công nhận:

(1)         Renin: trên 95% các renin do các cơ quan cạnh tiểu cầu thận tiết ra. Renin có thể khiến chất gây co mạch máu (Angiotensin) chuyển hoá thành chất gây co mạch, máu I; chất gây co mạch máu I dưới tác dụng của men chuyển đổi chất gây co mạch máu trong gan, thận, phổi và máu lại chuyển hoá thành chất gây co mạch máii II. Chất gây co mạch máu II là một loại chất tăng áp rất mạnh, tác dụng tăng áp của nó được thực hiện qua 2 phương diện: một là tác dụng khiến mạch máu co lại; hai là tăng dung lượng dịch ngoài tế bào. Trong đó hiệu ứng dung lượng lại càng quan trọng, chủ yếu thông qua việc kích thích các tế bào thượng bì hình cầu trên tuyến thượng thận để thúc đẩy sự tiết xuất aldosterone, làm tăng tái hấp thu Natri, quá trình này thông thưòng được gọi là “Hệ thống Renin – chất

gây co mạch máu (Angiotensin)- Aldosterone”ss. Tóm lại, thông qua một loạt quá trình sinh lí, thận khiến mạch máu co lại, dung tích máu tăng lên và làm tăng huyết áp.

(2)         Bradykinin và tiền liệt tố” (Prostaglandin): Nếu nói Renin là một yếu tố gây tăng áp, thì Bradykinin và tiền liệt tố mà thận sản sinh ra là một hệ thống hạ áp, giúp huyết áp luôn giữ được trạng thái cân bằng. Hai chất này đối kháng lẫn nhau nhưng lại có quan hệ tương hỗ. Chức năng sinh lí của Bradykinin chủ yếu là khuếch trương các động mạch nhỏ, tăng lưu lượng máu qua thận, thúc đẩy việc bài tiết nưốc và Natri ra ngoài cơ thể, ngoài ra còn có tác dụng chông mạch máu bị co, giảm huyết áp. Tiền liệt tố chủ yếu được sản sinh tại tế bào của phần đầu nhũ chất tuỷ thận, có tác dụng lợi tiểu, giảm thiểu dung lượng máu, làm giãn nỏ mạch máu, từ đó khiến huyết áp giảm xuống.

Kết quả hình ảnh cho Thận có rất nhiều chức năng nhưng quan trọng nhất là chức năng hình thành nưốc tiểu, bài tiết các chất thải.

(3)         Chất thúc đẩy sản sinh hồng cầu (EPO): 90% chất thúc đẩy sản sinh hồng cầu được tiết ra từ thận, 10% còn lại có nguồn gốc từ gan, tỳ và các tổ chức ngoài thận. Chất thúc đẩy sản sinh hồng cầu tác dụng tối tế bào tuỷ xương, thúc đẩy sự phân chia và trưỏng thành của hồng cầu nguyên thuỷ, thúc đẩy sự hấp thụ và lợi dụng của tuỷ xương đối vối sắt, đẩy nhanh tốc độ hợp nhất của hồng cầu và protein, thúc đẩy hồng cầu dạng lưối trong tuỷ xương hoà vào máu, tăng thêm sự tạo thành hồng cầu.

(4)         Chất 1.25-hydroxy-chole-calciferon (1.25-

(OH)2CC): Vitamin D sau khi qua thận để chuyển

hoá thành 1.25-(OH)2CC mối có thể phát huy được tác dụng sinh, lí của nó. Tế bào chất bì của thận có chứa 1-hydroxylase, vitamin D trưốc tiên dưối tác đụng của 25-hydroxylase gan chuyển hoá thành chất

  1. 25-hydroxy-chole-calciferon (1.25-(OH) 2CC), có tác dụng sinh lí gấp 4 lần vitamin D. Nó thúc đẩy tiến trình, hấp thu lại Phốt pho của tiểu quản thận, thúc đẩy canxi xương di chuyển và chuyển hóa thành canxi xương mới, thúc đẩy tiến trình hấp thụ lại Phốt pho và Canxi của ruột, giảm thiểu hàm lượng Phốt pho bài tiết ra ngoài. Tóm lại nó có quan hệ mật thiết tối sự trao đổi Canxi, Phốt pho và quá trình hình thành xương.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *